Trên đài Quy Nguyên, ánh sáng bát sắc của trận pháp dần thu lại, chỉ còn lại đồ hình Bát Quái nơi trung tâm khẽ xoay chuyển. Vân Triệt đứng đơn độc giữa trận, hơi thở dù có chút hỗn loạn nhưng ánh mắt lại sáng rực đầy kiên định. Vượt qua ba ải liên tiếp, dù hao tâm tổn sức, nhưng nàng lại càng thấu hiểu rõ hơn về những gì mình đã học. Sự sắc bén trong lòng không những không giảm mà ngược lại còn càng thêm cô đọng. Tám vị sư phụ không nói một lời, chỉ khẽ gật đầu, trong ánh mắt vừa có sự tán thưởng, lại vừa ẩn chứa những kỳ vọng sâu xa hơn. Lão nhân Địa Tạng khẽ gõ cây gậy gỗ mun, đài Quy Nguyên lại rung chuyển, ánh sáng đồ hình Bát Quái xoay chuyển, từ từ nuốt chửng lấy thân hình Vân Triệt. Ải thứ tư: Lục Nhâm Dự Đoán Tam Liên Chiến. Ánh sáng biến ảo, Vân Triệt thấy mình đang đứng giữa một võ đài cổ kính. Sân đấu được lát bằng đá xanh, xung quanh dựng những cột đá loang lổ, trên thân cột khắc đầy những chiến văn đã phong hóa. Bầu trời xám xịt, không trăng không nhật, chỉ có ba đài đá đứng lặng lẽ giữa sân, trên mỗi đài là một bóng người mờ ảo với khí tức khó dò. Một giọng nói già nua, lãnh đạm vang vọng khắp võ đài: “Ải dự đoán Lục Nhâm. Ba trận chiến, trước mỗi trận có thể khởi một quẻ để suy diễn ba chiêu thức của đối thủ. Dự đoán đúng, có thể tiên hạ thủ vi cường; dự đoán sai hoặc suy diễn không kịp, sống chết tự chịu.” Dứt lời, bóng người trên đài đá đầu tiên đột ngột ngưng tụ. Đó là một võ giả cầm trường thương, động tác cương mãnh, khí thế sắc bén, rõ ràng là đi theo lối đánh đại khai đại hợp, lấy sức mạnh áp đảo. Vân Triệt không vội vàng xông lên, nàng nhắm mắt ngưng thần, ngón tay trong tay áo bấm đốt tính toán. Lục Nhâm thần quẻ cần giờ giấc phương vị, nơi này không có nhật nguyệt, nhưng nàng có cách riêng – lấy việc bản thân nhập trận làm gốc, định “lúc này” làm dụng; lấy vị trí của võ giả làm “bỉ phương”. Nàng thầm nhẩm khẩu quyết, bố tứ khóa, định tam truyền, quan thần sát… Sau ba hơi thở, nàng mở mắt, trong mắt lóe lên tia sáng hiểu rõ. Quẻ tượng cho thấy, chiêu đầu của đối thủ tất là “Trung Bình Trực Thứ”, ẩn chứa ba phần hư lực, thực chất là để tích thế; chiêu thứ hai “Hoành Tảo Thiên Quân”, lực đạo bảy phần, phạm vi cực rộng; chiêu thứ ba “Hồi Mã Thương”, nhanh như chớp, đánh thẳng vào trung cung. Nắm chắc trong lòng, Vân Triệt lướt người lên đài. Võ giả trường thương vừa thấy nàng bước vào phạm vi liền động thủ, quả nhiên một thương đâm thẳng tới, thanh thế to lớn nhưng vẫn chừa lại đường lui. Vân Triệt nghiêng người tránh né, không lùi mà tiến, áp sát vào trong tầm thương của đối phương. Võ giả tung chiêu thứ hai quét ngang, tiếng gió rít gào bao phủ hơn nửa đài đá. Vân Triệt đã sớm dự liệu, hạ thấp người lướt bước, vừa vặn lách qua mép mũi thương, đồng thời chụm ngón tay như kiếm, điểm vào huyệt cổ tay đối phương. Võ giả dùng lực quá đà, chiêu thứ ba chưa kịp tung ra đã bị điểm trúng cổ tay, bóng người chao đảo rồi tan biến. Trận đầu, thắng. Bóng người trên đài đá thứ hai ngưng tụ. Lần này là một sát thủ cầm đoản đao, thân hình thoắt ẩn thoắt hiện, khí tức âm lãnh, bước chân không tiếng động, rõ ràng giỏi về ẩn nấp ám sát. Vân Triệt lại khởi quẻ suy diễn. Quẻ tượng lần này hơi mơ hồ, cho thấy đối thủ chiêu đầu “ẩn ở bên trái”, chiêu thứ hai “đánh từ bên phải”, chiêu thứ ba “độn ở phía sau”, nhưng thần sát có chữ “Quỷ”, gợi ý chiêu thức có thể ẩn chứa biến hóa. Nàng ngưng thần bước lên đài. Sát thủ quả nhiên biến mất trong chớp mắt, không khí bên trái khẽ rung động. Vân Triệt giả vờ trúng kế, nghiêng sang phải, thực chất toàn bộ sự chú ý đều tập trung bên trái. Quả nhiên, rung động bên trái chỉ là hư chiêu, sát cơ thực sự ập đến từ bên phải, đôi đoản đao như rắn độc phun lưỡi, nhắm thẳng vào mạng sườn. Vân Triệt xoay người né tránh, phản thủ một chưởng đánh vào khoảng không phía sau – đúng như quẻ tượng, chiêu thứ ba “độn ở phía sau”! Thế nhưng chưởng phong đánh vào không trung! Sát thủ không xuất hiện phía sau mà lại từ trên đỉnh đầu lao xuống, đoản đao cắm thẳng vào thiên linh! Quẻ tượng sai sao? Không, là thần sát “Quỷ” đã ứng nghiệm, đối phương thay đổi chiêu thức vào phút chót! Trong gang tấc, Vân Triệt không kịp khởi quẻ lại. Giữa lúc sinh tử, nàng chợt nhớ đến pháp “Quan Khí” mà Tương Cốt tiên cô truyền dạy – diện tướng có thể xem tâm tính, cốt tướng có thể xem căn cơ, còn khí tướng, có thể xem sự biến hóa trong chớp mắt! Nàng gồng mình ngưng thần, đôi mắt nheo lại, không nhìn vào động tác của sát thủ nữa mà tập trung vào luồng khí tức cực yếu đang luân chuyển quanh người đối phương. Khí tức đó âm lãnh quỷ dị, nhưng trong khoảnh khắc đổi chiêu, có một sự ngưng trệ và lệch lạc cực nhỏ truyền đến từ phía đỉnh đầu! Chính là lúc này! Vân Triệt dậm chân mạnh xuống đất, thân hình như cá lội lướt ra sau ba thước, đồng thời lòng bàn tay phải ngưng tụ một khối Ly Hỏa linh lực, đánh mạnh lên trên! “Phập!” Đôi đoản đao sượt qua má nàng, để lại một vết máu. Còn chưởng lực Ly Hỏa của nàng đánh trúng ngực sát thủ. Bóng người hừ nhẹ một tiếng rồi nổ tung thành những đốm sáng. Trận thứ hai, thắng hiểm. Vân Triệt sờ vết máu trên má, lòng vẫn còn sợ hãi. Dự đoán Lục Nhâm không phải vạn năng, lòng người (dù là ảo ảnh) khó lường, biến hóa còn khó lường hơn. Bóng người trên đài đá thứ ba ngưng tụ. Lần này là một lão già tay không, dáng vẻ còng lưng, bước đi lảo đảo, quanh người không chút khí thế sắc bén, ngược lại toát ra vẻ viên dung, phản phác quy chân. Vân Triệt không dám lơ là, lần thứ ba khởi quẻ. Quẻ tượng lại hoàn toàn hỗn độn, cho thấy đối thủ “động tĩnh vô thường, chiêu thức không định, dường như có lại như không”. Làm sao dự đoán đây? Nàng cắn răng bước lên đài. Lão già chậm rãi giơ tay, động tác chậm như đang tập Thái Cực, nhưng Vân Triệt lại cảm thấy không khí xung quanh đông cứng, một áp lực vô hình bao trùm toàn thân. Nàng cố gắng suy diễn động tác tiếp theo của đối phương, nhưng mỗi thay đổi nhỏ của lão đều vượt ra ngoài lẽ thường, như thể không bị ràng buộc bởi bất kỳ chiêu thức nào, tùy tâm sở dục nhưng lại ẩn chứa đạo lý. Ba chiêu dự đoán đều trật lất! Vân Triệt chật vật chống đỡ, tình thế nguy cấp, nếu không nhờ thân pháp linh hoạt, nàng đã sớm bại trận. Lão già tung một chưởng nhẹ bẫng, chưởng phong tưởng chừng mềm mại lại phong tỏa mọi đường lui của nàng. Không thể tránh né! Vân Triệt nghiến răng, không cố dự đoán chiêu thức nữa mà dồn toàn bộ tâm thần vào “Quan Khí”. Thế giới trong mắt nàng thay đổi, lão già không còn là hình người cụ thể mà là một khối “khí” tròn đầy, luân chuyển chậm rãi. Khối khí này viên dung không tì vết, không bắt đầu không kết thúc, nhưng ngay khoảnh khắc tung chưởng, luồng khí xuất hiện một sự “khựng lại” cực nhỏ – đó chính là kẽ hở trong khoảnh khắc chiêu thức sắp phát mà chưa phát, lực cũ lực mới chuyển giao! Chính là chỗ này! Vân Triệt không lùi mà tiến, lao thẳng vào lòng lão già, dùng vai chịu đòn, đồng thời tay phải chụm ngón, ngưng tụ toàn bộ linh lực, điểm vào nút thắt khí cơ đang khựng lại kia! “Bộp” một tiếng nhẹ như bong bóng vỡ. Chưởng lực của lão già tan biến hơn phân nửa, lực đạo còn lại dù chấn động khiến Vân Triệt khí huyết cuộn trào, lùi lại mấy bước nhưng không gây thương tích nghiêm trọng. Còn điểm chỉ của Vân Triệt đánh trúng nút thắt khí cơ, thân hình lão già cứng đờ rồi chậm rãi tan biến. Trận thứ ba, thắng thảm. Vân Triệt quỳ một chân xuống đất, khóe miệng rỉ máu, trong lòng lại bừng tỉnh: Lục Nhâm có thể tính lẽ thường, có thể xem đại thế, nhưng không tính hết được lòng người biến hóa trong chớp mắt, không tính hết được cảnh giới tối cao “vô chiêu thắng hữu chiêu”. Ngoài dự đoán, còn cần tùy cơ ứng biến, dùng thuật Quan Khí để bù đắp sự thiếu sót của suy toán. Ải thứ năm: Huyễn cảnh Tử Vi Mệnh Cách. Võ đài tan biến, Vân Triệt xuất hiện trong làn sương mù mờ ảo. Sương mù luân chuyển, hóa thành vô số ánh sáng, mỗi ánh sáng là một đoạn nhân sinh, một tương lai có thể xảy ra. Nàng thấy mình khoác huyết giáp, cầm lợi nhận, độc hành giữa biển máu núi xương, trong mắt chỉ có ngọn lửa phục thù, cuối cùng chém đầu Thiên Luật Ty Chủ, nhưng cũng giết chóc vô số, trở thành “Tu La phục thù” khiến người người khiếp sợ, cô độc đến già – đây là tương lai bị thù hận nuốt chửng. Nàng thấy mình ẩn cư nơi đào nguyên, bầu bạn với hoa cỏ chim muông, quên hết tiền trần, sống một đời bình đạm, thù cha mẹ, hận của sư phụ đều tan theo gió – đây là tương lai trốn chạy tất cả. Nàng thấy mình gia nhập Thiên Luật Ty, dựa vào Thiên Lậu Chi Thể và truyền thừa của Bát Tông mà thăng tiến vùn vụt, cuối cùng nắm quyền cao chức trọng, nhưng lại trở nên lạnh lùng tê liệt như những kẻ áo đen kia, thậm chí tự tay trấn áp những “kẻ phản nghịch” năm xưa – đây là tương lai phản bội bản tâm. Nàng còn thấy nhiều hơn thế: trở thành tông sư khai tông lập phái; khám phá bí ẩn thiên địa tiêu dao ngoại thế; thậm chí vì ma khí mất kiểm soát mà đọa vào ma đạo, gây họa cho chúng sinh… Vô số ánh sáng, vô số nhánh rẽ, như kính vạn hoa xoay chuyển trước mắt, mỗi cái đều chân thực, mỗi cái đều đầy cám dỗ hoặc khủng bố. Đây là huyễn cảnh Tử Vi Mệnh Cách, phản chiếu bản tâm, diễn hóa vô số khả năng. Nếu tâm chí không kiên định sẽ lạc lối trong tương lai rối ren, hoặc đắm chìm trong ảo ảnh mà không thể thoát ra, cuối cùng thần hồn khốn đốn, đạo tâm hoen ố. Vân Triệt đứng tại chỗ, ánh mắt quét qua từng luồng sáng. Tương lai Tu La phục thù khiến máu nàng sôi trào, tương lai ẩn cư đào nguyên khiến nàng khao khát, tương lai phản bội khiến nàng rùng mình… Mỗi tương lai dường như đều có lý lẽ và sức hấp dẫn riêng. Nàng nhắm mắt, không nhìn những luồng sáng đó nữa. Tâm thần thu liễm, quán chiếu bản tâm. “Ta tu hành vì cái gì?” Nàng tự hỏi. “Vì báo thù cho cha mẹ, vì rửa nhục cho sư phụ, vì tìm ra chân tướng.” Tiếng lòng trả lời. “Sau khi báo thù thì sao? Sau khi rửa nhục thì sao? Sau khi biết chân tướng thì sao?” Một giọng nói khác truy vấn. Vân Triệt im lặng. Từ lâu, nàng bị thù hận thúc đẩy, bị trách nhiệm quất roi, bị bí ẩn thu hút. Nhưng con đường tu hành dài đằng đẵng, nếu điểm cuối chỉ là phục thù, thì sau đó nàng sống vì cái gì? Nếu vì trốn chạy mà ẩn cư, thì huyết thù của cha mẹ sư phụ, truyền thừa của Bát Tông, ai sẽ gánh vác? Nếu vì quyền lực mà phản bội, thì khác gì kẻ thù? Nàng nhớ lời Địa Tạng sư phụ: “Hận cũng là một loại sức mạnh. Nhưng con phải ngự trị nó, chứ không phải để nó ngự trị.” Nhớ lời dạy của Chúc Do bà bà: “Sức mạnh không có chính tà, lòng người mới có thiện ác.” Nhớ biển hoa huyết sắc, đó là hóa thân của hận ý, nhưng cũng ẩn chứa sự kiên cường và sinh cơ. Một lúc lâu sau, nàng mở mắt, ánh mắt trong trẻo. “Ta tu hành, để minh tâm kiến tính, để bảo vệ những gì đáng bảo vệ, để cầu một sự không hổ thẹn với lòng.” Nàng chậm rãi lên tiếng, giọng không lớn nhưng vang vọng rõ ràng trong sương mù. “Thù cha mẹ phải báo, nhục của sư phụ phải rửa, chân tướng phải làm rõ. Nhưng báo thù không phải là giết chóc bừa bãi, rửa nhục không phải là trút giận lên người khác, làm rõ chân tướng không phải để thỏa mãn tư dục.” Nàng nhìn vào ánh sáng Tu La phục thù, lắc đầu: “Thù hận có thể làm lưỡi kiếm, không thể làm tâm. Nếu tàn sát người vô tội, ta và kẻ thù có gì khác biệt?” Nhìn vào ánh sáng ẩn cư đào nguyên, lại lắc đầu: “Trốn chạy có thể an ủi nhất thời, khó an ủi cả đời. Huyết thù chưa rửa, truyền thừa chưa nối, ta không mặt mũi nào quy ẩn.” Nhìn vào ánh sáng gia nhập Thiên Luật Ty, ánh mắt lạnh lùng: “Đạo bất đồng, không mưu cầu chung. Dù có ngàn lý do, phản bội bản tâm chính là tự vứt bỏ.” Nàng bước từng bước về phía sâu trong sương mù. Mỗi bước chân đi qua, vô số ánh sáng vỡ vụn tan biến, lại có ánh sáng mới sinh ra cám dỗ. Nàng không chút lay động, chỉ tuân theo tia sáng trong trẻo nơi đáy lòng – đó là bản tâm của nàng, là thứ mà sau khi trải qua khổ nạn, nhìn thấu chân tướng, nàng vẫn muốn kiên trì. “Ta muốn mạnh lên, mạnh đến mức đủ để tự tay giết kẻ thù, xoay chuyển càn khôn. Nhưng thanh kiếm trong tay không phải để tàn sát, mà là để bảo vệ đạo trong lòng, bảo vệ người ta quan tâm, bảo vệ sự ‘công nghĩa’ mà thiên địa này vốn phải có.” Dứt lời, sương mù phía trước bỗng chốc tan biến, mọi ánh sáng đều tiêu tán, chỉ còn một con đường nhỏ rõ ràng hiện ra dưới chân, dẫn về phía ánh sáng xa xăm. Huyễn cảnh, phá. Ải thứ sáu: Bách Tướng Nhân Ngẫu. Cuối con đường là một thạch thất cổ kính. Thạch thất trống trải, trung tâm bày một trăm con nhân ngẫu bằng gỗ. Nhân ngẫu to bằng người thật, điêu khắc sống động như thật, nam nữ già trẻ, xấu đẹp, thần thái khác nhau, kẻ khóc người cười, kẻ giận người buồn, kẻ trầm tư người điên cuồng. Mỗi khuôn mặt đều khác nhau. Trong thạch thất vang lên giọng nói lãnh đạm: “Bách Tướng Nhân Ngẫu, chỉ có một con mang theo ‘Chân Ngã’. Dùng thuật diện tướng xem ‘thần’ của nó, chứ không phải ‘hình’, tìm được Chân Ngã mới có thể qua ải.” Vân Triệt bước vào giữa đám nhân ngẫu. Một trăm khuôn mặt, một trăm biểu cảm lướt qua như đèn kéo quân. Nàng thử dùng thuật xem tướng của Tương Cốt tiên cô. Xem hình? Kỹ thuật điêu khắc nhân ngẫu cao siêu, hình mạo khác nhau, khó mà phân biệt. Xem cốt? Nhân ngẫu làm bằng gỗ, làm gì có cốt tướng? Chỉ có thể xem “thần” – tức cái thần vận nội tại mà người điêu khắc truyền vào, hay nói cách khác, chính là cái “khí” bản chất nhất mà những khuôn mặt này bộc lộ. Nàng tĩnh tâm lại, gạt bỏ tạp niệm, ánh mắt chậm rãi quét qua từng khuôn mặt. Kẻ khóc, nỗi buồn có chân thực? Kẻ cười, niềm vui có đến tận đáy mắt? Kẻ giận, sự phẫn nộ có phát ra từ tâm? Kẻ trầm tư, sự lo nghĩ có sâu sắc? Kẻ điên cuồng, sự điên rồ có bắt nguồn từ bản tâm? Nàng nhìn thấy nụ cười giả tạo, nỗi buồn gượng ép, sự giận dữ hời hợt, sự trầm tư cố tỏ ra sâu sắc, sự điên cuồng trống rỗng… Những khuôn mặt này dù hình dáng tinh xảo nhưng không có cái “thần” sống động, như thể đang đeo một trăm chiếc mặt nạ khác nhau. Đột nhiên, ánh mắt nàng dừng lại trên một khuôn mặt. Đó là một nhân ngẫu nữ tử trẻ tuổi, dung mạo thanh tú, không phải tuyệt sắc, giữa mày mang theo chút khí chất thư sinh. Nàng không có biểu cảm khoa trương, chỉ khẽ rủ mắt, như đang ngắm nhìn cuốn sách vô hình trong tay. Ánh mắt nàng bình tĩnh, trong trẻo như hồ nước mùa thu, nhưng ẩn dưới sự bình tĩnh đó là một nỗi buồn cực nhạt, khó mà nhận ra. Nỗi buồn đó không phô trương, không thê lương, nhưng như một tông màu nền, thấm đẫm toàn bộ thần thái của nàng. Quan trọng hơn, khi Vân Triệt nhìn vào đôi mắt ấy, trong lòng bỗng sinh ra một sự cộng hưởng kỳ lạ. Sự trong trẻo trong ánh mắt đó giống hệt bản tâm của nàng khi tĩnh tâm quán chiếu; còn nỗi buồn ẩn giấu kia lại lặng lẽ hô ứng với nỗi đau thương sâu thẳm trong lòng nàng về cha mẹ, về sư phụ, về sự bất công của thiên địa này. Hình có thể giả, thần khó lừa. Vân Triệt đưa tay, nhẹ nhàng đặt lên vai nhân ngẫu nữ tử. Một tiếng “cạch” nhẹ vang lên, chín mươi chín con nhân ngẫu còn lại đồng loạt hóa thành mùn gỗ, rơi lả tả. Chỉ có con trong tay nàng vẫn nguyên vẹn, đôi mắt trong trẻo ẩn chứa nỗi buồn đó dường như khẽ động, chạm vào ánh mắt nàng. Tường thạch thất lặng lẽ trượt mở, lộ ra con đường phía sau. Ải thứ sáu, qua. Vân Triệt buông nhân ngẫu, thở phào một hơi dài. Vượt sáu ải liên tiếp, thân tâm đều mệt mỏi, nhưng ánh mắt nàng lại càng kiên định sáng ngời. Thử thách vẫn chưa kết thúc, nhưng nàng đã hiểu, đây không chỉ là khảo nghiệm về kỹ nghệ, mà còn là sự tra khảo về tâm tính, về bản tâm, về câu hỏi “ta rốt cuộc là ai”. Đường phía trước còn dài, nhưng nàng đã tìm thấy phương hướng.
Bát Phong Dẫn
Chương 26: Tiếp tục thử luyện
31
Đề cử truyện này