Chương 35: Chương 8: Tái ngộ (04)

Chiều ngày thứ tư, Trưởng khoa cuối cùng cũng tuyên bố hoàn tất công việc, mọi người được nghỉ sớm. Hồ Kinh Vĩ vội vã chạy về nơi ở, thay bộ quần áo sạch sẽ, chỉnh đốn lại dung mạo rồi đi tìm Văn Du. Khi đến trước cửa phòng phẫu thuật, anh thấy cửa đóng kín mít, chỉ có một cô y tá nhỏ đang ngồi đốt lửa hấp đồ ngoài sân. Không hiểu sao, miệng cô bé cứ lẩm bẩm mãi câu “tuō le kù zi, tuō le kù zi”. Hồ Kinh Vĩ đang lúng túng không biết có nên bắt chuyện hay không thì cô bé đã ngước lên hỏi: “Anh tìm ai?” “Quách Văn Du có ở đây không?” Cô bé ra hiệu cho anh nói khẽ, rồi thì thầm: “Họ đang phẫu thuật, chị Văn Du cũng ở trong đó.” Hồ Kinh Vĩ hơi tiếc nuối, nhưng nghĩ lại thì phẫu thuật rồi cũng sẽ xong, anh quyết định đợi, bèn ngồi xuống trò chuyện cùng cô bé: “Em đang hấp cái gì thế?” “Hấp dụng cụ y tế để tiệt trùng ạ.” “Em bao nhiêu tuổi rồi?” “16 tuổi.” “Nhỏ thế mà đã đi lính rồi sao?” “Không nhỏ đâu, em đi lính được bốn năm rồi.” Hồ Kinh Vĩ kinh ngạc: “Bốn năm? Vậy là 12 tuổi em đã tòng quân rồi?” “Vâng ạ.” “Nhỏ thế mà quân đội cũng nhận sao?” Hồ Kinh Vĩ thắc mắc. Cô bé kể: “Trước chiến dịch bảo vệ Diên An, cả trường em được cải tổ thành bệnh viện dã chiến theo quân tham chiến. Lúc đó em mới vào cấp hai, nhà trường không cho học sinh nhỏ và giáo viên lớn tuổi ra trận mà tách đội đi sơ tán. Nhưng hai người anh trai học cấp ba của em đều đi lính, em không muốn xa họ nên lén đi theo. Lâu dần, muốn quay lại tìm đơn vị cũ cũng không được nữa, bệnh viện đành giữ em lại.” Hồ Kinh Vĩ cười: “Em giỏi thật đấy! Hai anh của em cũng ở đây à?” “Anh hai ở bệnh viện trung ương,” ánh mắt cô bé bỗng tối sầm lại, “còn anh cả đã hy sinh khi đánh Thạch Gia Trang rồi.” Hồ Kinh Vĩ vội nói lời xin lỗi. Nhìn cô bé nhỏ nhắn, bộ quân phục mặc trên người trông rộng thùng thình, tay áo bông quá dài phải xắn lên thành từng cuộn tròn ở cổ tay, anh tìm chuyện để nói: “Bộ quân phục này không phải của em đúng không? Rộng quá.” “Là của em đấy. Tại đợt phát áo bông gấp gáp quá, không đủ cỡ, cứ vớ được cái nào mặc cái đó. Em người nhỏ quá nên không có cỡ vừa. Chị y tá trưởng bảo cứ mặc tạm, đợi thắng lợi rồi đổi cho cái nhỏ hơn. Có đồ mặc là tốt rồi, hồi mới đi lính tụi em làm gì có quân phục, ai nấy mặc đồ cá nhân, đủ loại kiểu dáng, gặp nhau còn chẳng nhận ra là đồng đội. Sau này bệnh viện phát mỗi người một cái mũ quân đội mới phân biệt được với dân thường sơ tán.” “12 tuổi đã ra tiền tuyến, bố mẹ em không xót sao?” “Họ hy sinh từ lúc em chưa đầy một tuổi, em còn chẳng biết mặt mũi họ ra sao nữa.” Cô bé nói xong thì im lặng, cúi đầu chăm chú thêm củi vào bếp. Hồ Kinh Vĩ không ngờ mình lại chạm vào nỗi đau của cô bé, nhất thời không biết nói gì, một lúc sau mới vỗ vai cô: “Đừng buồn, mọi người ở đây đều là người thân của em.” Cô bé ngước lên cười nhẹ: “Vâng ạ. Từ khi đến trường vùng biên, em đã tìm thấy gia đình rồi.” “12 tuổi đã ra trận, em có sợ không?” “Mới đầu thì có chút sợ. Chúng em theo quân đội, họ tiến thì mình tiến, họ rút thì mình rút, dọc đường thu nhận thương binh. Lúc đó, vừa băng bó cho thương binh vừa dỏng tai nghe tiếng súng đạn, tiếng nổ càng xa thì lòng càng yên, còn nếu tiếng nổ gần lại là tim đập thình thịch. Nhưng quân đội bảo vệ chúng em rất kỹ, mỗi lần rút lui đều báo trước, có khi còn cử chiến sĩ hộ tống. Trải qua vài lần, cảm thấy quân đội là chỗ dựa nên em không sợ nữa.” “Bệnh viện dã chiến của các em chưa từng đụng độ quân địch sao?” “Ở Triều Tiên thì chưa, nhưng hồi trong nước có một lần rất nguy hiểm. Chủ lực đi đánh Mã Bộ Phương, bệnh viện cử ba đại đội đi theo, còn chúng em và đại đội hai ở lại địa phương thu nhận thương binh. Kết quả là địch chia làm hai ngả, một ngả đánh chủ lực, ngả kia bao vây hai đại đội và cơ quan hậu cần chúng em. Lúc đó căng thẳng lắm, chính ủy bảo rằng ‘đến lúc hy sinh rồi, nhưng không thể ngồi chờ chết, phải tìm cách xoay xở đưa thương binh đi’. Chúng em tổ chức các nam sinh lớn tuổi thành đội chiến đấu, đưa hết súng đạn cho họ chặn hậu, những người còn lại mỗi người cầm hai quả lựu đạn, khiêng cáng thương binh rút lui. Lúc đó chúng em đã nghĩ, nếu bị địch đuổi kịp thì sẽ dùng lựu đạn đồng quy vu tận với chúng.” “Sau đó thì sao? Địch có đuổi kịp không?” “Không ạ. Nếu đuổi kịp thì em đâu còn ngồi đây. Chúng em chạy đến tối thì gặp mưa bão, địch đi trú mưa nên chúng em mới thoát. Để tránh địch, chúng em không dám đi đường lớn mà phải leo núi. Đường núi trơn trượt, đi một bước trượt hai bước, ai nấy ngã lăn lóc, bùn đất bám đầy người. Mãi mới đến được một ngôi làng, tưởng có thể ăn chút gì đó lấy sức, ai ngờ vào đến nơi thì dân làng đã sơ tán hết, không còn một bóng người, đến ngụm nước nóng cũng không có. Chúng em vắt khô quần áo rồi mặc lại, đang định nhóm lửa trong bếp thì chính ủy báo phải đi ngay vì mưa tạnh rồi, sợ địch đuổi theo. Thế là cả đoàn lại tiếp tục đi. Cứ như vậy, chúng em hành quân cấp tốc suốt năm ngày mới thoát khỏi vòng vây để hội quân với chủ lực. Giờ nghĩ lại vẫn thấy sợ, nếu lúc đó đụng độ trực diện thì chắc chắn hy sinh hết, vì chúng em còn chưa từng được bắn súng bao giờ.” Hồ Kinh Vĩ ngạc nhiên: “Các em chưa từng bắn súng thật sao?” “Chúng em là quân y, trừ vài bạn phụ trách bảo vệ được huấn luyện, còn lại chẳng ai biết bắn. Thời đó súng đạn quý lắm, ngay cả bộ đội chiến đấu còn chẳng đủ mỗi người một khẩu.” Sau khi trò chuyện, cả hai đã thân thiết hơn, Hồ Kinh Vĩ tò mò hỏi: “Lúc nãy em lẩm bẩm cái gì thế?” “Em đang học từ mới ạ.” “Học từ mới?” “Vâng, là tên thuốc, ngày nào cũng phải nhẩm nếu không sợ quên.” “Tên thuốc gì cơ?” Cô bé lấy từ túi ra một mảnh giấy đưa cho anh: “Đây, anh xem đi.” Hồ Kinh Vĩ nhận lấy, trên giấy chép đầy những từ tiếng Anh, bên cạnh là chú thích tiếng Trung. Câu “tuō le kù zi” (cởi quần) mà cô bé nói lúc nãy nằm cạnh từ “Glucose”, còn cạnh “Penicillin” lại ghi là “pàn nǐ sǐ xíng” (phán ngươi tử hình). Hồ Kinh Vĩ mới vỡ lẽ, hóa ra cô bé dùng tiếng Trung để phiên âm cách đọc tiếng Anh của thuốc. Cô bé đỏ mặt ngại ngùng: “Lúc đi làm em mới học lớp sáu, chưa học tiếng Anh bao giờ. Tên trên lọ thuốc toàn là tiếng Anh, sang Triều Tiên em mới bắt đầu học bảng chữ cái, không nhớ nổi từ nên đành tự ‘phiên âm’ sang tiếng Hán.” Hồ Kinh Vĩ khen: “Em thông minh thật đấy, nghĩ ra cách này tiện quá.” Cô bé cười, vẻ mặt cũng tự nhiên hơn nhiều. Hai người trò chuyện rất lâu, cho đến khi tiếng còi tập trung buổi tối vang lên mà ca phẫu thuật vẫn chưa xong, Hồ Kinh Vĩ đành nhờ cô bé nhắn lại với Văn Du tối ra bờ suối gặp nhau. Đi được vài bước, anh quay lại hỏi: “Cô bé, anh tên Hồ Kinh Vĩ, còn em tên gì?” “Em tên Vương Vĩnh Trân.” Ca phẫu thuật kéo dài đến tận 9 giờ đêm, Văn Du mệt đến mức chỉ muốn ngồi bệt xuống đất ngủ thiếp đi, nhưng còn phải rửa dụng cụ nên đành lê tấm thân rã rời đi dọn dẹp. “Chị Văn Du, để em làm cho.” Vương Vĩnh Trân bước vào nói, “Có một chiến sĩ tên Hồ Kinh Vĩ đợi chị suốt cả buổi chiều, đến tận giờ tập trung mới về. Anh ấy bảo tối nay đợi chị ở bờ suối đấy. Chị rửa tay rồi đi nhanh đi.” Văn Du nghe vậy, vội cởi chiếc áo blouse đầy vết máu rồi chạy đi. Khi cô thở hổn hển chạy đến bờ suối, bóng người cũng chẳng thấy đâu. Văn Du đi qua đi lại, lòng thầm nghĩ không biết anh chưa đến hay đã đi rồi? Những ngày tái ngộ này, dù cùng ở trong một ngôi làng nhưng hai người chỉ gặp nhau đúng một lần. Ngày nào cũng bận rộn với thương binh ra vào phòng phẫu thuật, cô đến thời gian để nhớ đến anh cũng không có. Giờ biết anh hẹn mình ở đây, Văn Du bỗng thấy nóng lòng muốn gặp anh, muốn biết anh định nói gì. Đợi một lúc, cô ngồi xuống tảng đá lớn bên bờ suối rồi thiếp đi lúc nào không hay. Trong mơ, cô cũng đi gặp Hồ Kinh Vĩ, nhưng không phải ở đây mà là đi tàu hỏa đến Trùng Khánh. Thế nhưng cứ có đủ chuyện cản trở, khi thì không tìm thấy quần áo, khi thì mất vé tàu, hoặc bạn học bảo thầy Vương gọi lên văn phòng, cô chạy tới chạy lui mãi mà không tìm thấy văn phòng đâu, lòng sốt ruột vô cùng... Không biết qua bao lâu, cơn gió lạnh thổi qua mặt suối làm cô tỉnh giấc. Mở mắt ra, cô thấy mình vẫn ở bờ suối, xung quanh chẳng có một ai. Cô đứng dậy mới thấy hai chân tê dại, phải vận động một hồi lâu mới đỡ. Cô nhìn quanh bốn phía, vẫn là không có ai, đành tiếc nuối quay về nơi ở. Quân đội nói đi là đi, sáng hôm sau, Văn Du nghe tin đơn vị trong làng đã rút đi hết từ đêm qua. Cô vội chạy đến cơ quan quân bộ xem thử, quả nhiên người đi nhà trống, lòng cô hụt hẫng đến lạ thường.

Cố bắc thần

Đề cử truyện này

MessengerFacebookZaloThreads

Đề xuất cho bạn