Dương Văn Nguy quỳ một mình trong linh đường, bên tai chỉ có tiếng nến cháy lách tách cùng tiếng gió rít gào văng vẳng từ ngoài điện. Hắn chậm rãi đứng dậy, bước tới trước cỗ quan tài mạ vàng, đưa tay khẽ vuốt ve mặt gỗ. Lớp sơn vàng lạnh lẽo, chạm vào thấu tận tâm can. Hắn chầm chậm đi quanh quan tài, mười ngón tay miết nhẹ dọc theo khe hở giữa nắp và thân, ánh mắt sắc như dao, không bỏ sót bất kỳ chi tiết nhỏ nào. Khi tới cuối quan tài, hắn khựng lại, tì tay vào mép nắp rồi dùng sức đẩy mạnh—quan tài vẫn trơ trơ bất động. Dương Văn Nguy khẽ nhíu mày. Cỗ quan tài này làm bằng gỗ nam mộc, bên ngoài sơn son thếp vàng, tuy nặng nề thật đấy, nhưng dẫu không thể mở ra thì cũng phải có chút lung lay. Đằng này, cú đẩy vừa rồi chẳng khác nào châu chấu đá xe, nắp và thân quan tài khít khao như đúc thành một khối. Nghi hoặc trong lòng càng thêm đậm đặc. Hắn định thử lại lần nữa thì chợt nghe tiếng bước chân khe khẽ phía sau. Một tiểu thái giám cầm bình dầu rón rén bước vào. Chính là đứa trẻ hôm qua làm mất mặt trước điện, bị Chu Lộc Khang đá ngã lăn quay. Dương Văn Nguy rời khỏi cỗ quan tài, quỳ trở lại trên bồ đoàn. Tiểu thái giám cảm thấy mình vừa nhìn thấy thứ không nên thấy, lại nhận ra đang bị Dương Văn Nguy dò xét, liền vội vàng quỳ xuống hành lễ. Dương Văn Nguy không buồn ngước mắt, chỉ thản nhiên nói: “Đi châm dầu đèn đi.” “Dạ, dạ!” Tiểu thái giám như được đại xá, lồm cồm bò dậy, xách bình dầu chạy như bay tới trước linh vị, tay chân thoăn thoắt châm dầu cho đèn trường minh. Xong xuôi, tiểu thái giám lại dập đầu trước Ngụy Vương rồi lùi bước ra khỏi cửa điện. Nghe tiếng đóng cửa của tiểu thái giám, ánh mắt Dương Văn Nguy lóe lên tia hàn quang. Hắn đứng dậy lần nữa, nhưng không còn thử cỗ quan tài kia nữa mà chắp tay đứng lặng trước linh vị, nhìn ngọn nến chập chờn, hồi lâu không nói. Đêm tối như mực, Chu Lộc Khang lưng còng xuống, bước chân tập tễnh băng qua cung đạo, chậm rãi tiến về phía căn phòng trực của mình. Đến trước cửa, ông đưa tay đẩy. Cánh cửa gỗ kêu “kẽo kẹt” một tiếng rồi mở ra, ánh trăng như nước tràn vào trong phòng. Chu Lộc Khang vừa định bước vào thì khựng lại. Dưới ánh trăng, ông nhìn thấy trên bàn sách dưới cửa sổ có thêm một bình hồ lô bằng bạc cao chừng ba tấc, tỏa ra ánh lạnh lẽo trong đêm thanh vắng. Tim Chu Lộc Khang thắt lại, cứng đờ tại cửa, phải vịn vào khung cửa mới đứng vững được. Đợi tâm trạng bình ổn lại, ông hít sâu một hơi, nương theo ánh trăng ngoài cửa quan sát căn phòng—bàn ghế, giường chiếu, hòm tủ, mọi thứ vẫn như cũ. Đứng lặng một lát, ông mới bước vào, khép cửa lại. Ông không thắp đèn, cứ thế nương theo ánh trăng mờ ảo ngoài cửa sổ mà đi tới trước bàn sách. Chiếc bình bạc đứng lặng trên án, bên cạnh không có vật gì khác. Chu Lộc Khang đưa bàn tay gầy guộc cầm chiếc bình bạc lên, cảm giác nặng trịch, thân bình trơn láng, chạm khắc tinh xảo, tuyệt đối không phải vật tầm thường. Ông run rẩy vặn nắp bình, dốc miệng bình xuống, khẽ điểm ba cái vào lòng bàn tay trái. “Tách.” Một viên thuốc đỏ thắm lăn ra lòng bàn tay, dưới ánh trăng tỏa ra sắc máu yêu dị. Chu Lộc Khang nhìn chằm chằm viên thuốc, tay run lên dữ dội. Ông nhìn hồi lâu, rồi lại run rẩy đổ viên thuốc vào bình, đậy nắp lại, siết chặt trong lòng bàn tay. Sau đó, ông khom lưng, khó nhọc lết tới sau bàn sách, ngồi phịch xuống ghế, tựa như một cái xác không hồn. Ngoài cửa sổ, trăng đã lên tới đỉnh đầu. Chu Lộc Khang nhắm mắt lại, cảnh tượng đêm hôm trước như thủy triều ùa về trong tâm trí. Đêm hôm trước, giờ Tý. Ông vẫn như thường lệ chỉ huy đám thái giám dọn dẹp Thái Hòa điện, rồi đi tuần một vòng quanh tẩm cung của tiên đế là Khôn Ninh điện. Trong điện mọi thứ vẫn như cũ, long tháp, ngự án, tủ sách, không vương một hạt bụi. Sau đó, ông an tâm trở về phòng trực. Lúc ấy, ông xách một chiếc đèn lồng, vừa đẩy cửa phòng định bước vào thì cả người bỗng cứng đờ. Ánh trăng hắt qua khung cửa sổ, ngay tại bàn sách ông thường ngồi, lại có một bóng người đang ngồi đó! “Ai?!” Chu Lộc Khang giật mình, tay lỏng ra, chiếc đèn lồng “loảng xoảng” rơi xuống đất, ngọn nến chao đảo mấy cái nhưng không tắt, lăn nửa vòng trên đất, ánh sáng vàng vọt chiếu rõ gương mặt người kia. Đó là một lão thái giám trạc tuổi ông, mặt trắng không râu, lông mày dài mảnh, khóe miệng phảng phất ý cười khó đoán. Chu Lộc Khang nhận ra ngay người này—chính là chưởng sự thái giám tại Trường Lạc cung của Thái hậu, Lý Thọ Tùng. “Chu công công, làm ngài kinh sợ rồi.” Lý Thọ Tùng chậm rãi đứng dậy, hơi cúi người với Chu Lộc Khang, giọng điệu khách sáo nhưng ẩn chứa vẻ không thể chối từ: “Đêm hôm khuya khoắt quấy rầy, thực sự có việc quan trọng. Phiền Chu công công theo ta tới Trường Lạc cung một chuyến, Thái hậu có lời mời.” Tim Chu Lộc Khang chùng xuống. Thái hậu triệu kiến giữa đêm, tuyệt đối không phải chuyện thường. Ông cúi người nhặt đèn lồng, trấn tĩnh lại rồi nói: “Đã là ý chỉ của Thái hậu, lão nô xin tuân lệnh. Lý công công, xin mời đi trước.” Hai người một trước một sau, băng qua cung đạo tĩnh mịch. Đêm sâu hun hút, đèn cung mờ ảo, chỉ có tiếng bước chân vang vọng giữa những bức tường thành trống trải. Tới Trường Lạc cung, thấy cửa cung khép hờ, bên ngoài chẳng có thị vệ canh gác. Lý Thọ Tùng đẩy cửa vào, dẫn Chu Lộc Khang xuyên qua tiền viện, thẳng tiến vào hậu viện nơi đặt tẩm điện. Suốt dọc đường không thấy bóng dáng một cung nhân nào, cả tòa cung điện tĩnh lặng đến đáng sợ, chỉ có gió thu thổi qua hành lang, rên rỉ như tiếng khóc. Tới trước cửa tẩm điện, Lý Thọ Tùng không vào mà dừng bước, giơ tay gõ nhẹ ba cái lên cánh cửa điện sơn son. Một lát sau, trong điện truyền ra giọng nói của một người phụ nữ già nua: “Vào đi.” Lý Thọ Tùng đẩy cửa, nghiêng người nói với Chu Lộc Khang: “Chu công công, mời. Thái hậu đang đợi bên trong.” Chu Lộc Khang thấp thỏm bước vào. Cánh cửa điện khép lại sau lưng ông, Lý Thọ Tùng không theo vào. Trong tẩm điện chỉ thắp một ngọn đèn cung, ánh sáng vàng vọt. Chu Lộc Khang ngước mắt nhìn, thấy Thái hậu Vương Lệnh Dung ngồi một mình trên phượng tháp. Ánh đèn lờ mờ chiếu lên khuôn mặt đầy nếp nhăn của bà, đôi mắt già nua ấy lại sắc bén như chim ưng, đang lặng lẽ nhìn ông. Chu Lộc Khang vội vàng quỳ xuống hành lễ, không dám ngẩng đầu. “Đứng lên đi.” Giọng Vương Lệnh Dung bình thản không chút gợn sóng: “Chu công công cũng coi như là người quen cũ với ai gia rồi, không cần câu nệ, đứng dậy nói chuyện đi.” Chu Lộc Khang tạ ơn rồi run rẩy đứng dậy, buông tay đứng thẳng, nhưng đầu vẫn cúi rất thấp. Trong điện rơi vào tĩnh lặng ngắn ngủi. Nến cháy lách tách, hắt bóng hai người lên tường, chao đảo nhẹ. Vương Lệnh Dung chợt lên tiếng, giọng điệu xa xăm như đang hồi tưởng chuyện cũ: “Chu công công còn nhớ lần đầu tiên gặp ai gia không?” Tim Chu Lộc Khang thắt lại, đó đã là chuyện mấy chục năm trước, ông bối rối ngẩng đầu nhìn Vương Lệnh Dung, thấy bà đầy vẻ dịu dàng, lại vội vàng cúi đầu, cung kính đáp: “Bẩm Thái hậu, lão nô đương nhiên nhớ… là… ở trong cung của Hòa phi nương nương. Mong Thái hậu đừng nhận nhầm lão nô thành… thành một cố nhân.” “Cố nhân…” Khóe mắt Vương Lệnh Dung khẽ động, vẻ dịu dàng rút đi, trở nên sắc sảo: “Hứa Phụng Niên à Hứa Phụng Niên, ngươi đúng là kẻ si tình.” Chu Lộc Khang chấn động, đột ngột ngẩng đầu. Vương Lệnh Dung nhìn ông, khóe miệng nhếch lên nụ cười lạnh lẽo: “Lý A Hòa đối xử với ngươi như thế, ngươi lại có thể vì nàng mà tự đoạn trần căn, nhập cung làm nô. Những năm qua, ngươi làm bao nhiêu việc vì nàng, gánh bao nhiêu tội nghiệt, nàng đối xử với ngươi ra sao? Nàng có từng nhớ tới một chút tình xưa nghĩa cũ nào với ngươi không?” Chu Lộc Khang tuy kinh ngạc nhưng vẫn cố giữ bình tĩnh, không đổi sắc mặt: “Thái hậu, lão nô… không hiểu ý người là gì. Lão nô chỉ nhớ mang máng lần đó Thái hậu tới cung Hòa phi nhận nhầm lão nô, lão nô đã giải thích rồi.” “Hừ!” Vương Lệnh Dung cười khẽ: “Lần đầu gặp ở cung Hòa phi, ngươi diễn kịch rất khá, ai gia suýt nữa bị ngươi lừa. Đáng tiếc thay, sau khi tiên đế và Hòa phi lần lượt qua đời, ngươi có vẻ hơi lơ là rồi.” Bà chậm rãi đứng dậy, đi tới bên cửa sổ, quay lưng về phía Chu Lộc Khang, giọng nói phiêu diêu như từ cõi âm vọng lại: “Ba năm trước, người của ai gia đi ngang qua huyện Hứa, Giang Châu, gặp một gia đình nông dân. Nhà đó có một đứa trẻ tám tuổi tên Hứa Thiên Hữu, tướng mạo khôi ngô, thông minh lanh lợi, đáng tiếc bẩm sinh tâm mạch có khiếm khuyết, cần uống thuốc quanh năm để duy trì tính mạng. Ngươi đoán xem, mỗi năm nhà đó tốn bao nhiêu bạc để mua thuốc cho đứa trẻ này? Họ chỉ là dân làm ruộng, lấy đâu ra nhiều bạc như vậy?” Chu Lộc Khang như bị sét đánh, lảo đảo lùi lại một bước, vịn vào cột nhà mới đứng vững. Ông trợn trừng mắt, nhìn chằm chằm vào bóng lưng Vương Lệnh Dung, cổ họng phát ra tiếng kêu “khục khục” nhưng không thốt nên lời. Vương Lệnh Dung chậm rãi quay người, ánh mắt như lưỡi băng đâm thẳng vào tâm can Chu Lộc Khang: “Ngươi có bao giờ thắc mắc, tại sao tên tiêu sư vẫn thường gửi bạc cho ngươi tới huyện Hứa lại đột nhiên đổi người? Và tại sao từ đó không còn tin tức gì nữa không?” Bà tiến lại gần từng bước, mỗi bước đi, sắc mặt Chu Lộc Khang lại nhợt nhạt thêm một phần. “Yên tâm, họ hiện giờ sống rất tốt.” Vương Lệnh Dung dừng lại trước mặt Chu Lộc Khang, nhìn xuống lão thái giám mặt cắt không còn giọt máu: “Sống trong tòa nhà lớn nhất huyện Hứa, có đầy tớ hầu hạ, ăn mặc chi tiêu không phải lo nghĩ, còn chu đáo hơn lúc ngươi còn ở đó. Họ đều tưởng rằng mọi thứ vẫn do ngươi âm thầm sắp đặt, nên chúng ta hỏi gì đáp nấy, không giấu giếm điều gì.” “Bộp” một tiếng, Chu Lộc Khang quỳ rạp xuống đất, dập đầu lia lịa, nước mắt giàn giụa: “Thái hậu! Lão nô đáng chết! Lão nô tội đáng muôn chết! Cầu xin Thái hậu khai ân, tha… tha cho họ… họ không biết gì cả, chỉ là, chỉ là những đứa trẻ vô tội thôi!” Vương Lệnh Dung đứng trên cao, lạnh lùng nhìn ông: “Năm đó Giang Châu đại hạn, đất đai nứt nẻ, đói kém khắp nơi. Lý A Hòa đói lả ngất trước cửa vương phủ, là mẹ ai gia nhân từ, cứu nàng về phủ. Thấy nàng lanh lợi, lại nói trong nhà không còn người thân, nên giữ lại làm thị nữ thân cận cho ai gia. Ai gia đối xử với nàng như chị em, chưa bao giờ coi nàng là kẻ hầu người hạ! Sau đó ngươi quen nàng ngoài chợ, ai gia biết hai người có tình ý, nhưng vương phủ có quy củ, nữ tử nếu đã gả chồng thì không được ở lại phủ. Lý A Hòa không chịu rời phủ, ai gia đành giấu mẹ, âm thầm làm mai cho hai người, cho phép các ngươi lén lút gặp nhau. Nhưng kết quả thì sao?” Trong mắt Vương Lệnh Dung bùng lên vẻ oán độc: “Kết quả là đêm trước ngày Đại Hàn lập quốc, nàng thừa lúc tiên đế say rượu, bò lên long sàng của tiên đế!” Chu Lộc Khang phục dưới đất, hai tay siết chặt vạt áo, đốt ngón tay trắng bệch. Chuyện cũ như dao, từng nhát từng nhát khoét vào tim, đau đến mức toàn thân ông run rẩy, nhưng chỉ có thể cắn răng chịu đựng. “Nhưng điều khiến ai gia không ngờ tới hơn cả,” giọng Vương Lệnh Dung dịu lại, nhưng càng khiến người ta rợn tóc gáy: “Ngươi lại si tình đến mức này, không những không oán nàng, mà còn thừa dịp vài năm sau cung đình tuyển người, bỏ vợ bỏ con, tự cung nhập cung, chỉ để ở bên cạnh người đàn bà đê tiện ấy.” Nói tới đây, giọng Vương Lệnh Dung có chút run rẩy, cảm thán: “Kẻ si tình, tại sao luôn đặt sai chỗ. Bao nhiêu năm qua, ngươi thực sự chưa từng hối hận vì lựa chọn ban đầu sao?” Chu Lộc Khang không đáp, chỉ dán chặt trán xuống đất, nước mắt theo những rãnh nhăn nơi khóe mắt thấm ướt khe gạch. Vương Lệnh Dung thở dài một tiếng, trong tiếng thở dài ấy dường như có chút thương hại: “Thôi bỏ đi, chuyện cũ đã qua. Ai gia hôm nay gọi ngươi tới, không phải để ôn chuyện.” Bà quay người đi về phía phượng tháp, lấy từ ngăn bí mật cạnh tháp ra một cuộn giấy màu vàng, đặt lên án: “Hai ngày nữa, linh cữu hoàng đế về triều. Khi đó, ngươi chỉ cần đứng trước mặt văn võ bá quan, chỉ nhận cuộn chiếu thư này là bút tích của tiên đế là được.” Chu Lộc Khang đột ngột ngẩng đầu, nhìn cuộn giấy, rồi lại nhìn Vương Thái hậu, trong mắt đầy vẻ kinh hãi. Ông hầu hạ tiên đế mấy chục năm, không ai hiểu rõ nét chữ của tiên đế bằng ông. Nếu chiếu thư trong cuộn giấy này thực sự do tiên đế viết, Thái hoàng thái hậu cần gì phải ép buộc ông giữa đêm khuya để làm chứng? Trừ khi… một ý nghĩ đáng sợ hiện lên trong đầu ông. Vương Lệnh Dung thấy Chu Lộc Khang không nói, quan sát thần sắc ông, biết ông đã đoán ra bảy tám phần, sắc mặt bỗng trầm xuống, dùng giọng điệu khuyên nhủ pha lẫn đe dọa: “Còn một việc, ai gia cần nhắc nhở ngươi.” Bà chậm rãi bước lại trước mặt Chu Lộc Khang, từng chữ từng chữ như búa tạ giáng vào tim: “Duyệt phi năm đó, thực sự khó sinh mà chết sao? Đứa trẻ của Kính phi, là do ai hại chết? Ai gia thay Lý A Hòa gánh tiếng xấu bao nhiêu năm nay, nàng ta lại trong sử sách công bút, kiếm được mỹ danh ‘phu thê tình thâm’ với tiên đế. Ngươi nói xem, nếu ai gia công khai những chuyện này, hai nhà Viên, Trương sẽ đối xử với Lý A Hòa thế nào? Liệu có còn tận tâm phò tá Ngụy Vương nữa không?” Đồng tử Chu Lộc Khang co rút, nỗi sợ hãi đã lan tới từng sợi tóc bạc. Vương Lệnh Dung cúi người, thì thầm bên tai ông, giọng như rắn độc phun lưỡi: “Duyệt phi cũng có chút quan hệ với Hà tướng quân, ba nhà Chương, Trương, Hà lại càng gắn kết chặt chẽ, cùng hội cùng thuyền. Nếu họ biết sự thật, liệu còn tin tưởng Ngụy Vương như vậy không? Nếu mất đi sự ủng hộ của ba nhà đó, chỉ dựa vào một mạch nhà họ Tạ, Ngụy Vương còn có thể làm nên trò trống gì?” Bà đứng thẳng người, nhìn xuống Chu Lộc Khang mặt cắt không còn giọt máu, chậm rãi nói: “Ngươi làm theo, ai gia vẫn có thể để cháu của Lý A Hòa làm hoàng đế, bảo toàn vinh quang sau khi nàng ta chết. Bằng không… hừ, sợ là ngay cả mộ phần của Lý A Hòa cũng không giữ nổi!” Chu Lộc Khang chỉ cảm thấy trời đất quay cuồng, trước mắt tối sầm, tai ù đi không dứt. Ông ngửa đầu nhìn những họa tiết trang trí phức tạp trên trần điện, chỉ thấy những hình vẽ đó vặn vẹo xoay chuyển, như một tấm lưới khổng lồ giam cầm ông chặt chẽ. Hồi lâu, ông chậm rãi nhắm mắt, hai hàng nước mắt đục ngầu trào ra. Tâm như tro tàn, chính là như thế này. Giọng Vương Lệnh Dung lại vang lên, ngữ điệu đã dịu đi nhiều: “Ngươi hầu hạ Lý A Hòa nửa đời người, lại phục vụ con trai nàng gần hai mươi năm, đã sớm không còn nợ nàng điều gì nữa rồi. Giờ đây, cũng nên nghĩ cho bản thân, cho nhà họ Hứa của các ngươi đi. Việc này thành công, ai gia bảo đảm con cháu nhà họ Hứa của ngươi bình an, cho ngươi hưởng vinh hoa tuổi già, có kết thúc tốt đẹp.” Chu Lộc Khang mở mắt, trong mắt đã không còn thần thái. Ông chậm rãi đứng dậy, chỉnh lại y phục, vái sâu một cái trước Vương Lệnh Dung, giọng khàn đặc như tiếng trống vỡ: “Lão nô… xin tuân theo ý chỉ của Thái hậu.” Hồi ức như thủy triều rút đi. Chu Lộc Khang ngồi trên ghế, chậm rãi mở mắt. Ngoài cửa sổ, phía đông đã hửng sáng. Ông cúi đầu, nhìn chiếc bình bạc trên bàn sách. Ánh trăng đã nhạt, dưới ánh bình minh, hoa sen quấn quýt trên thân bình càng thêm rõ nét, vệt đỏ thắm kia yêu diễm như máu. Ông đưa tay cầm lấy chiếc bình bạc lần nữa, vặn nắp, đổ viên thuốc đỏ vào lòng bàn tay… Ngoài cửa sổ, ánh sáng ngày càng rõ, tiếng chim hót râm ran. Một ngày mới bắt đầu. Giờ Mão ba khắc, tiểu thái giám làm mất mặt trước điện hôm qua vội vã chạy tới, khẽ gọi ngoài phòng trực của Chu Lộc Khang: “Chu công công, sắp tới giờ khóc triều rồi, ngài nên dậy thôi.” Trong phòng im lặng. Tiểu thái giám gõ cửa lần nữa, tăng âm lượng: “Chu công công? Ngài có đó không? Tiểu nhân vào nhé?” Vẫn không có hồi âm. Tiểu thái giám nghi hoặc, đưa tay đẩy nhẹ—cửa không hề chốt, mở ra ngay lập tức. Cậu ta ló đầu vào trong, gọi: “Chu công—” Lời nói dừng bặt. Ánh bình minh hắt qua cửa sổ, chiếu sáng cảnh tượng trong phòng: Chu Lộc Khang lưng còng xuống, úp mặt gục bên bàn sách, bất động. Tiểu thái giám đứng ngây người một lúc, bừng tỉnh, lồm cồm bò vào phòng, miệng kêu lớn: “Chu công công! Chu công công ngài sao vậy?” Cậu ta lao tới, đưa tay đỡ. Khi chạm vào, cơ thể vẫn còn hơi ấm. Cậu ta dùng sức lật người Chu Lộc Khang lại— “Á—!” Một tiếng hét thảm thiết xé toạc bầu trời buổi sớm. Chỉ thấy Chu Lộc Khang mắt trợn trừng, đồng tử tan rã, khuôn mặt tím tái đáng sợ. Từ thất khiếu, máu đen chảy ra, trông vô cùng dữ tợn dưới ánh bình minh. Tiểu thái giám ngã ngồi xuống đất, toàn thân run như cầy sấy, răng đánh cầm cập, muốn kêu cứu mà không thốt nên lời. Cậu ta dùng cả tay cả chân bò lùi lại phía sau, cho tới khi lưng đập vào chân bàn mới dừng lại, bút mực trên bàn vì cú va chạm mà “loảng xoảng” rơi vãi khắp sàn.
Bào huyết
Chương 5: Cái chết của tên thái giám
22
Đề cử truyện này